I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
HIỆN TRẠNG NGUỒN NƯỚC, MÔI TRƯỜNG, CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN NGUỒN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐÁY THUỘC ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
 

 

Ninh Bình là tỉnh nằm ở Đông - Nam đồng bằng Bắc Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 90km về phía Nam, có hệ thống giao thông thuận tiện. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp tỉnh Nam Định, phía Đông - Nam giáp biển Đông, phía Tây - Bắc giáp tỉnh Hoà Bình và Thanh Hoá. Như vậy, các tỉnh và Thành phố Hà Nội, Hà Tây, Nam Định, Hoà Bình và Thanh Hoá là các tỉnh thành có quan hệ trực tiếp trong mối quan hệ kinh tế liên vùng. Bài viết này đề cập đến một nội dung rất quan trọng, đó là sự ảnh hưởng trực tiếp của tài nguyên nước có tính liên vùng tới sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên nước ở Ninh Bình.

I - Đặc điểm của lưu vực các sông thuộc địa bàn tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình là một tỉnh có địa hình khá phức tạp, đa dạng, có thể phân thành ba vùng: Vùng đồi núi, vùng đồng bằng và vùng đồng bằng ven biển. Ninh Bình có rất nhiều sông, suối và kênh rạch. Tổng chiều dài sông suối trong tỉnh là 811 km. Các sông chính của tỉnh Ninh Bình bao gồm:

1- Sông Đáy

Sông Đáy là con sông lớn nhất ở tỉnh Ninh Bình. Sông Đáy chảy vào địa phận Ninh Bình từ xã Gia Thanh và đổ ra biển qua cửa Đáy. Từ  Gia Thanh (Gia Viễn) đến Khánh Trung (Yên Khánh), sông Đáy chảy theo hướng Tây - Bắc, Đông - Nam, từ Khánh Trung đến cửa Đáy chảy theo hướng Bắc - Nam. Lòng sông rộng và sâu. Theo tài liệu quan trắc tại trạm thuỷ văn Ninh Bình từ năm 1990 - 1994, cao trình độ mực nước nhất từ 285 - 345m, thấp nhất từ 6 - 20m, trung bình là 101 - 133m.

Tốc độ dòng chảy của sông Đáy phụ thuộc vào tình hình mưa trong lưu vực, vào dòng chảy trên các nhánh sông Hoàng Long, sông Đào và việc đóng, mở đập Đáy. Sông Đáy là một chi lưu lớn của sông Hồng, bắt đầu từ cửa Hát Môn, chảy qua địa phận các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình rồi đổ ra biển ở cửa Đáy. Lưu vực Sông Đáy bao chiếm phần lưu vực vùng hữu ngạn sông Hồng.

Các phụ lưu lớn của sông Đáy như sông Tích, sông Thanh Hà, sông Hoàng Long (ở hữu ngạn), sông Nhuệ, sông Châu, sông Sắt và sông Đào.

Nam Định (ở tả ngạn). Sông Đào ở Nam Định là chi lưu của sông Hồng đổ vào sông Đáy ở Độc Bộ. Ngoài ra sông Ninh Cơ cũng là chi lưu của sông Hồng liên hệ với sông Đáy bởi sông Quần Liêu.

Qua hơn 50 năm (1954 - 2004) xây dựng và phát triển đã và đang hình thành 9 hệ thống thuỷ lợi lớn trên lưu vực sông Đáy là: Sông Tích, Thanh Hà, sông Nhuệ, bắc Hà Nam, trung Nam Định, thượng sông Bôi, bắc Ninh Bình, nam Ninh Bình và khu độc lập hữu Đáy. Trước năm 1934, sông Đáy là một chi lưu tự nhiên của sông Hồng. Công Trình đập Đáy được xây dựng và hoàn thành năm 1937 nhằm tạo thuận lợi cho việc tiêu úng và thoát lũ cho bản thân sông Đáy, ngăn không cho nước lũ sông Hồng chảy vào. Chỉ khi nước sông Hồng lớn uy hiếp Thủ đô Hà Nội và các vùng quan trọng khác, thì đập Đáy được mở ra để phân lũ nước sông Hồng, hạ thấp mực nước cho Hà Nội và hạ du. Từ khi hoàn thành, đập Đáy đã vận hành thử và sử dụng nhiều lần nhưng luôn gặp sự cố, chưa lần nào mở được như ý muốn. Công trình đã được nâng cấp và tu sửa một số lần, nhất là khi phân lũ tháng 8 năm 1971, thì năm 1974 đã có sửa chữa lớn. Nhưng cho đến nay, cụm các công trình cống và đê tràn Vân Cốc, lòng hồ Vân Cốc, đập Đáy, lòng dẫn thoát lũ, vùng phân chậm lũ chưa thể làm việc an toàn và chủ động như mong đợi. Do vậy, cần có sự nghiên cứu để cải tạo tiếp, đáp ứng việc giải quyết vấn đề chống lũ lụt và thời tiết bất thường xảy ra.

Từ năm 1971 đến nay, các ngành kinh tế trong khu vực đã không ngừng phát triển: Từ đô thị, Công nghiệp, dân cư, Nông, Lâm nghiệp, giao thông vận tải, du lịch. Theo đó, các công trình và hệ thống công trình thuỷ lợi cũng được tập trung tu bổ, nâng cấp và đầu tư xây dựng. Tuy nhiên do quá trình phát triển kinh tế, xã hội trên lưu vực diễn ra nhanh chóng, nên đòi hỏi yêu cầu phát triển nguồn nước ở thế cân bằng mới. Có thể nêu một số biến động lớn hiện tại và dự kiến cho tương lai, đòi hỏi phải có sự phát triển nguồn nước cho giai đoạn mới, đó là:

Hàng loạt đô thị đang được phát triển như: Thủ đô Hà Nội, Thành phố Nam Định, thị xã Phủ Lý, thị xã Ninh Bình, chuỗi đô thị vệ tinh như Sơn Tây, Hoà Lạc, Xuân Mai, Miếu Môn cũng đã được lập  quy hoạch, một số đang được quy hoạch và một số đang được xây dựng. Cùng với sự phát triển đô thị, các ngành kinh tế: Công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, dịch vụ cũng đang phát triển và mở rộng không ngừng.

Về Nông nghiệp trước đây: Ruộng 2 vụ chiếm 30 - 40% diện tích. Ngày nay hầu hết là 2 vụ, nhiều khu vực đã có 20 - 30% diện tích 3 vụ sản xuất (2 lúa 1 màu hoặc 2 màu 1 lúa). Cơ cấu cây trồng, nhu cầu sử dụng nước thay đổi lớn , tranh chấp sử dụng nước cũng đã xuất hiện, chất lượng nước ở một số khu vực đang ở mức báo động. Nhu cầu tiêu cũng đang tăng nhanh và đòi hỏi thời gian tiêu khẩn trương hơn.

Lòng sông và bãi bồi Sông Đáy, đê chính, đê bối và các phân khu phân chậm lũ sau 29 năm không có phân lũ nên cũng có nhiều thay đổi  cả về cơ sở hạ tầng, dân cư, đường đi, kinh tế  và đời sống dân cư.

Công trình  thuỷ lợi  như Đồng Mô, Ngải Sơn, hồ Suối Hai... bị thay đổi nhiệm vụ hoặc thêm nhiệm vụ so với thiết kế ban đầu do phát triển các ngành kinh tế gây ra. Trước đây chúng được xây dựng để cấp nước tưới lúa, nay có hồ chuyển một phần, có hồ chuyển toàn bộ sang lĩnh vực du lịch, dịch vụ, gây mất cân bằng trong cấp nước cho Nông nghiệp tiêu úng, phòng chống lũ lụt. Phát triển nguồn nước cần được nghiên cứu và đầu tư xây dựng công trình, quản lý tài nguyên nước tạo thế cân bằng mới đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của lưu vực.

2- Sông Hoàng Long

Sông Hoàng Long là một phụ lưu của sông Đáy, bắt nguồn từ vùng núi gần thị xã Hoà Bình, chảy theo hướng Tây Bắc, Đông Nam và đổ vào sông Đáy tại Gián Khẩu. Lưu vực sông Hoàng Long bao gồm các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Kỳ Sơn (tỉnh Hoà Bình) và huyện Nho Quan, Gia Viễn tỉnh Ninh Bình. Sông chính Hoàng Long dài 125km, diện tích toàn lưu vực là 1.550km2, trong đó vùng núi đá vôi chiếm 295km2. Thượng lưu của sông Hoàng Long là sông Bôi, về phía hạ lưu còn có 2 phụ lưu nữa là sông Đập và sông Lạng. Sông Đập đổ vào sông Hoàng Long ở gần trạm thuỷ văn Bến Đế, sông có lưu vực là 91km2, chiều dài sông là 29km, chiều dài lưu vực là 21,5km, chiều rộng lưu vực 4,6km, độ dốc trung bình lưu vực là 2,0%.

Sông Lạng là phụ lưu chính đổ vào sông Hoàng Long ở dưới trạm thuỷ văn Bến Đế. Sông có diện tích lưu vực là 204km2, chiều dài sông 31,5km, chiều dài lưu vực là 32,5km, chiều rộng lưu vực trung bình là 6,3km, độ dốc trung bình lưu vực 2,2%, độ cao bình quân lưu vực là 72m.

Nhìn chung, mạng lưới sông chính ở lưu vực sông Hoàng Long có dạng hình giẻ quạt nên khi có lũ thì nước ở các sông cùng đồng thời tập trung về vùng đồng bằng, uy hiếp đê điều, dễ gây ra lũ lụt nghiêm trọng cho 2 huyện Nho Quan và Gia Viễn.

Do diện tích lưu vực sông Hoàng Long không lớn, điều kiện địa hình thuận lợi cho các tình thế gây mưa, nên có lượng mưa khá lơn. Mặt khác, do sông ngắn, dốc, nên lũ sông Hoàng Long thường đột ngột, cường suất lũ rất lớn, mực nước sông cao, lưu lượng lớn. Thung lũng sông Hoàng Long có đặc điểm là hầu như không có phần trung lưu (lưu vực từ vùng đồi núi thượng lưu chuyển tiếp ngay sang vùng đồng bằng hạ lưu). Sông ở hạ lưu có độ dốc đáy sông rất nhỏ, lòng sông mở rộng nhưng lại thu hẹp dần từ Bến Đế đến Gián Khẩu. Cửa sông Hoàng Long lại đổ vào sông Đáy (thường do lũ ở thượng lưu và trung lưu sông Đáy như sông Tích, sông Thanh Hà và các phụ lưu sông Đáy dồn về), và nước lũ lớn ở sông Hồng, chuyển qua sông Đào (Nam Định) rồi đổ vào sông Đáy (mỗi năm trung bình khoảng 20 tỷ m3, mùa lũ lưu lượng tới 6.000m3/s) gây ảnh hưởng đến sông Đáy và sông Hoàng Long.

Khi mực nước lũ sông Hồng lên quá cao, uy hiếp đê điều ở khu vực Hà Nội và các tỉnh đồng bằng thì phải phân lũ vào sông Đáy. Trong trường hợp này, sông Hoàng Long sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn lượng nước khổng lồ được phân vào sông Đáy qua sông Đào (Nam Định). Lượng nước lũ từ sông Đáy sẽ tràn ngập và ngược vào sông Hoàng Long gây ra ngập úng nghiêm trọng, kéo dài. Nếu lúc này, thượng lưu sông Hoàng Long lại đồng thời xuất hiện lũ lớn thì nhất định sẽ gây ra lũ cực lớn và mức độ ngập lụt sẽ vô cùng nghiêm trọng. Tình hình sẽ trở nên nguy hiểm hơn nhiều nếu tất cả các trường hợp trên đều xảy ra. Khi có phân lũ vào sông Đáy, lũ trên các phụ lưu của sông Đáy dồn về, mưa lũ lớn ở chính sông Hoàng Long, lượng mưa lớn ở vùng đồng bằng của lưu vực Hoàng Long và lại rơi đúng vào lúc triều cường, thì lũ sông Hoàng Long sẽ rất lớn.

Đây là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, của các nhà hoạch định chính sách là sự phối kết hợp nghiên cứu khắc phục của các tỉnh lân cận như tỉnh Hoà Bình, Hà Nam và Nam Định. Kết quả điều tra diễn biến lũ lụt tại vùng phân lũ sông Hoàng Long trong 38 năm (1961 - 1998) có tới 130 trận lũ mức nước trên hoặc bằng 2m, 88 trận lũ có mức nước trên hoặc bằng 2,5m; 76 trận lũ nước có mức nước hoặc bằng 2,8m và 59 trận lũ có mức nước trên 3m (số liệu của Viện khoa học Thuỷ lợi năm 2000). Mỗi lần phân lũ điều kiện dân sinh kinh tế gặp rất nhiều khó khăn.

Ngoài 2 con sông chính, Ninh Bình còn có một hệ thống sông vừa và nhỏ, đáng chú ý là sông Vạc, một phụ lưu của Sông Đáy.

Dòng chảy của sông Đáy và các chi lưu của nó có quan hệ chặt chẽ với nhau. Dòng chảy trên sông Hoàng Long có ảnh hưởng quan trọng đến dòng chảy trên sông Đáy. Vùng cửa sông Đáy lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thuỷ triều vịnh Bắc Bộ.

Hệ thống sông ngòi thuộc tỉnh Ninh Bình có ý nghĩa rất to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng. Vừa có tác dụng tưới nước phù sa cho đồng ruộng vừa có tác dụng tiêu nước khi lũ lụt. Ngoài ra, sông ngòi Ninh Bình còn là những tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng. Tuy nhiên, những tai biến do sông ngòi mang lại như sạt lở, lũ lụt, vỡ đê cũng ảnh hưởng xấu đến đời sống cư dân trong vùng.

Ngoài những sông nội địa thuộc Ninh Bình, còn một số sông trực tiếp đổ vào sông Đáy như:

- Sông Thanh Hà: Có lưu vực nhỏ 390km2, bắt nguồn từ Hoà Bình đổ vào sông Đáy tại Bạch Tuyết.

- Sông Tích: Bắt nguồn từ dãy núi Ba Vì, có chiều dài 110km, đổ vào sông Đáy tại Ba Thá.

- Các sông nội đồng: Sông Nhuệ, sông Châu, sông Sắt, sông Vạc, sông Càn đều là những trục cấp và tiêu nước cho các khu vực.

- Sông Đào Nam Định: Là phân lưu của sông Hồng, nó chuyển nước cả mùa lũ và mùa kiệt sang sông Đáy. Chế độ dòng chảy của sông Đáy (nhất là về mùa lũ) chịu ảnh hưởng rất lớn của con sông này.

- Sông Ninh Cơ: Liên hệ với sông Đáy qua kênh Quần Liêu và kênh Quần Liêu lại chuyển nước từ sông Đáy qua sông Ninh Cơ cả mùa kiệt và mùa lũ, ảnh hưởng thuỷ triều của sông này là rất mạnh.

II- Chế độ nước sông Đáy.

Chế độ dòng chảy của sông Đáy hết sức phức tạp do sông vừa chảy qua miền núi và miền Đồng Bằng, vừa chịu ảnh hưởng của sông Hồng lại chịu tác động của thuỷ triều (bảng 2)

Sông Đáy có mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5, kiệt nhất vào tháng 3. Mođun dòng chảy trên sông Đáy từ 5 - 7  1/s/km. Nguồn nước sông Đáy về mùa kiệt được tiếp từ sông Hồng sang là chính, nước được lấy qua các cống, trạm bơm ven sông Hồng như Phù Sa Liên Mạc và cuối cùng là sông Đào ở Nam Định. Tuy nguồn nước càng về hạ lưu sông Đáy càng dồi dào, nhưng mực nước luôn thấp hơn đồng ruộng, do vậy việc cấp nước chủ yếu là qua bơm.

Về mùa lũ, với những năm không phân lũ sông Hồng vào thì lũ trên sông Đáy là do nước lũ từ các sông suối thuộc bờ hữu ngạn và nước tiêu ra từ các hệ thống thuỷ lợi tạo ra lũ đoạn từ đập Đáy đến Gián Khẩu. Từ Gián Khẩu, lũ sông Đáy lại được kết hợp với 1 lượng lũ của sông Hồng do sông Đào Nam Định chuyển sang, làm cho việc thoát lũ trên sông Đáy khó khăn và phức tạp.

Nhìn chung, về vấn đề thoát lũ, bản thân sông Đáy cũng đã phức tạp, một số năm, mực nước ngoài sông đã cao hơn cả năm phân lũ 1971, như năm 1985, 1996, lũ lụt luôn uy hiếp, nhất là sông Nhuệ, sông Hoàng Long....khả năng lũ sông Hồng lớn sẽ có phân lũ sông Đáy, tình hình xảy ra hết sức phức tạp. Vấn đề là hệ thống công trình phân thoát lũ cần được rà soát lại và nâng cấp để đáp ứng phân lũ nhanh với lượng lớn khi tình huống đó xảy ra. Do vậy, đê tả Đáy, đập Đáy, lòng hồ Vân Cốc, lòng dẫn sông Đáy cần được đầu tư nghiên cứu và tu bổ nâng cấp sao cho đáp ứng yêu cầu trên. Mặt khác, các khu làm chậm lũ phải được phát triển như thế nào để vừa có thể làm chậm lũ vữa phù hợp với yêu cầu hiện tại và tương lai của dân cư trong các khu vực này.

Bảng 1: Mức nước thấp nhất một số năm tại các trạm trên sông Đáy

Trạm

Mực nước (bằng m, so  với độ cao trung bình mặt nước biển)

1961

1962

1988

1992

1993

1994

1995

1996

1997

Đập Đáy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

La Khê

 

 

1.35

1.80

1.75

1.85

 

 

 

Ba Thá

0.39

0.40

0.39

0.38

0.38

0.33

0.21

0.16

0.24

Vân Đình

0.33

0.33

0.20

0.20

0.30

0.30

 

 

 

Tân Lang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phủ Lý

0.01

-0.03

-0.11

0.13

-0.01

0.06

-0.04

-0.13

-0.04

Gián

0.05

0.32

-0.16

0.00

0.02

0.07

-0.04

-0.18

-0.06

Ninh Bình

0.23

0.36

0.01

0.18

-0.04

0.06

-0.15

-0.26

-0.19

Độc Bộ

 

-0.19

 

 

 

 

 

 

 

Như Tân

 

 

 

 

-0.61

-0.58

-0.70

-0.71

-0.70

Hưng Thi

-

7.04

6.87

6.79

6.75

6.81

6.77

6.73

6.93

Bến Đế

-

0.23

0.04

0.05

0.11

0.06

-0.02

-0.05

0.00

Nam Định

-

-

0.17

0.42

0.39

0.45

0.24

0.05

0.09

 

(Số liệu do Viện Khoa học Thủy lợi cung cấp năm 2002)

Bảng 2: Mức nước cao nhất một số năm tại các trạm trên sông Đáy

 

Trạm

Mực nước (bằng m, so  với độ cao trung bình mặt nước biển)

1932

1945

1968

1969

1971

(phân lũ)

1978

1985

Đập Đá

12.66

12.8

 

11.54

13.21

 

 

La Khê

12.20

10.53

5.16

8.34

10.84

 

 

Ba Thá

7.85

7.12

5.00

5.39

7.68

6.32

6.17

Vân Đình

6.58

6.12

4.20

4.27

6.40

 

 

Tân Lang

5.65

 

 

3.49

5.22

 

4.89

Phủ Lý

4.38

3.85

3.37

3.29

4.13

4.33

4.60

Gián khẩu

2.66

2.63

3.36

3.05

3.74

3.92

4.58

Ninh Bình

2.00

2.42

3.8

3.03

3.63

3.48

4.11

Độc Bộ

2.13

2.46

2.85

2.98

3.44

2.51

3.29

Như Tân

 

 

2.57

1.56

1.14

1.71

1.85

Bến Đế

 

 

4.55

3.01

4.07

5.43

5.46

Nam Định

4.23

4.88

4.70

5.12

5.77

4.29

4.82

 

 (Số liệu do Viện Khoa học Thuỷ lợi cung cấp năm 2002)

III- Hiện trạng hệ thống công trình cấp nước, tiêu nước và chất lượng nước ở lưu vực sông đáy

a- Về cấp nước:

Nguồn nước cấp cho lưu vực bao gồm nước mặt và nước ngầm (nước ngầm được khai thác rất ít, chủ yếu tập trung ở các Thành phố, thị xã và một số khu dân cư ở vùng bán sơn địa). Nước mặt là tài nguyên chủ yếu dùng để phục vụ các ngành kinh tế. Có hai nguồn nước mặt chính được cấp cho lưu vực là nguồn nước sông Hồng (khá dồi dào) và nguồn nước từ các phụ lưu thuộc khu vực sông Đáy (tuy không dồi dào nhưng cũng góp phần đáng kể để đáp ứng nhu cầu nước ở các vùng núi, bán sơn địa và một phần nhỏ đồng bằng của lưu vực). Nhìn chung, hất hết các ngành kinh tế đều dựa vào nguồn nước mặt do các hệ thống thuỷ lợi cung cấp ra để sử dụng. Khu vực Đồng Bằng trong lưu vực về mùa kiệt sử dụng nguồn nước chính là từ sông Hồng qua các trạm bơm, cống tạo nguồn, sông chuyển nước (Phù Sa, Liên Mạc, sông Đào Nam Định). Khu vực đồi núi, bán sơn địa nguồn cấp nước từ các hồ, đập, công trình thuỷ lợi nhỏ (kể cả trạm bơm, cống để cấp nước). Trong lưu vực, nước được cấp theo hai hình thức là tự chảy và động lực (phần đồi núi và ven biển chủ yếu là tự chảy, phần đồng bằng chủ yếu là động lực). Các công trình hồ chứa lớn có thể nêu là Suối Hai, Đồng Mô - Ngải Sơn và hàng loạt hồ nhỏ dọc theo sườn dãy Ba Vì và Cúc Phương, Tam Điệp. Hàng loạt trạm bơm lấy nước từ sông Hồng, sông Đáy cấp nước như Phù Sa, Đan Hoài, Hữu Bị, Như Trác, Cốc Thành, Nhâm Tràng... cùng với một hệ thống cống dưới đê vừa tiêu nước vừa lấy nước cho các hệ thống trong lưu vực. Theo số liệu năm 1998, diện tích được cấp theo thiết kế là 293.397,3ha, nhưng thực tế chỉ đảm bảo được 239.777,98 ha, trong đó tự chảy 106.665,08ha (cống và hồ, đập) và do động  lực là 133.122,9ha.

b- Về tiêu nước:

Tiêu thoát lũ ở vùng đồi núi và tiêu nước mưa ở các khu vực nội đồng vùng ven biển với hình thức tự chảy là chính, các vùng đồng bằng tiêu chính là động lực (các trạm bơm thường được xây dựng theo kiểu tiêu kết hợp tưới nước), các công trình này có thể bơm trực tiếp vào sông Đáy, sông Hồng, sông Tích hay sông Hoàng Long, nhưng có rất nhiều trạm lại bơm nước vào sông trục nội đồng rồi tự chảy ra sông Đáy như sông Nhuệ, sông Châu, nam Ninh Bình, trung Nam Định....Ngoài ra còn hàng loạt các cống dưới đê sông Đáy, sông Tích, sông Hồng, sông Hoàng Long cũng tiêu thoát nước ra các sông trục bằng tự chảy khi có điều kiện. Diện tích thiết kế có công trình để tiêu đến 1998 là 429.424,58ha. Song thực tế diện tích đã tiêu chỉ đạt 336.956,68ha (do nhu cầu tiêu ngày càng cao những công trình đã xây dựng 20 -  30 năm nên đang xuống cấp nghiêm trọng).

c- Vấn đề chất lượng nước ở sông Đáy

Trong lưu vực hệ thống sông Đáy có nhiều địa điểm, mà ở đó, môi trường và chất lượng nước đã ở mức báo động, việc kiểm soát và xử lý nước thải chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng. Nước thải của khu dân cư, khu đô thị, cơ sở Công nghiệp chưa được xử lý đã đổ thẳng vào sông. Nước thải của thủ đô Hà Nội, cả mùa mưa và mùa khô không đều đưa vào sông Nhuệ và lại được dùng cấp cho tưới lúa, có nơi cho cả dân sinh. Các thị xã như Phủ Lý, Ninh Bình cũng đổ thải nước sinh hoạt, nước thải sản xuất vào sông Đáy, sông Châu, sông Vân.... làm chúng ô nhiễm. Các đô thị mới và khu Công nghiệp đang được xây dựng như bờ hữu sông Tích và Tam Điệp là nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước khi nước thải của các khu vực này đều xả xuống các phụ lưu của lưu vực sông Đáy, nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng vì nguồn nước về mùa kiệt hết sức khó khăn, hạn hán thường xảy ra ở các khu vực này. Hiện nay việc xử lý nước thải rất cục bộ, số liệu quan trắc hầu như chưa có. Nước thải lại đổ vào vùng sản xuất Nông nghiệp và các khu dân cư nông thôn.

IV- Các giải pháp để phát triển  nguồn nước ở lưu vực sông đáy

1- Thực trạng

Trong lưu vực sông Đáy, ngành kinh tế chủ yếu là Nông nghiệp với diện tích, năng xuất, sản lượng còn biến động vì cơ cấu cây trồng chưa ổn định, đất đai canh tác đang bị giảm do phát triển đô thị, dân cư và hoạt động Công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, những vùng bãi bồi, ven sông, ven biển còn có tiềm năng phát triển. Năng suất lúa trung bình vụ mùa từ 2,5 - 3,5 tấn/ha, vụ chiêm xuân từ 3,0 - 4,0 tấn/ha, có một số nơi lấy được nước trực tiếp từ sông Hồng nên có năng xuất khá cao, nhưng có những nơi năng suất rất thấp như Yên Thuỷ, Lạc Thuỷ, Nho Quan,  Tam Điệp khoảng từ 1,5 - 2,5 tấn/ha/vụ.

Dân số trên toàn lưu vực khoảng 8.199.376 người (năm 1997), trong đó khu vực nông thôn chiếm 70%. Đô thị và Công nghiệp đang được mở rộng và phát triển mạnh. Các khu công nghiệp gắn với các đô thị như: Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Phủ Lý, Tam Điệp... cùng với các Nhà máy sản xuất, chế biến, thiết bị máy móc công nghệ cao, vật liệu xây dựng, điện tử đã và đang được xây dựng, mở rộng.

Các ngành kinh tế khác như giao thông, du lịch, dịch vụ, thuỷ sản và tiểu thủ công nghiệp đang trên đà phát triển. Mạng lưới đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và giao thông nông thôn đang được xây dựng mạnh mẽ. Các khu du lịch, dịch vụ như Suối Hai, Đồng Mô - Ngải Sơn, Chùa Hương, Cúc Phương, Hoa Lư, Xuân Thuỷ ... tương lai sẽ chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế của khu vực. Ngoài nuôi trồng thuỷ sản ven biển, các hồ chứa, việc nuôi trồng thuỷ sản đang phát triển cả trên sông và trong các ao hồ đầm nhỏ nằm rải rác trong vùng.

a- Yêu cầu mới về cấp nước và tiêu nước:

Nhu cầu nước sinh hoạt và nước sản xuất tăng lên song một số hồ chứa (Từ cấp nước tưới nước cho nông nghiệp sang làm nhiệm vụ du lịch, dịch vụ như: Đồng Mô - Ngải Sơn, Suối Hai...) Một số công trình cấp nước được giao thêm nhiệm vụ nên đòi hỏi bổ sung nguồn nước và tạo nguồn nước thay thế. Nhu cầu nước sạch cho các khu đô thị mới, cho nông thôn, các khu Công nghiệp và để cải tạo môi trường nước đang tăng nhanh. Hệ số quay vòng đất nông nghiệp tăng (2 vụ tăng lên 3 vụ), ngày nay không chỉ phát triển tưới lúa mà còn tưới cho hoa màu và cây công nghiệp, cây ăn quả nên gây thiếu nguồn nước để sử dụng. Nước cho vùng bãi ven sông, ven biển cũng đang tăng lên.

Yêu cầu tiêu thoát nước ngày càng tăng, thời gian đòi hỏi ngắn hơn do giống cây trồng cho năng suất cao thì khả năng chịu ngập kém. Các khu đô thị dân cư đang mở rộng nhưng lượng nước thải đều tập trung vào đất nông nghiệp. Công trình tiêu hiện tại xuống cấp, thiếu năng lực theo yêu cầu tiêu mới.

b-Yêu cầu phòng chống và giảm nhẹ thiên tai:

Tình hình lũ lụt xảy ra bất thường, việc thoát lũ và tiêu úng cho lưu vực sông Đáy cũng trở nên phức tạp, một số năm mực nước ngoài sông đã cao hơn cả năm phân lũ 1971. Lũ lụt luôn uy hiếp, nhất là sông Nhuệ và sông Hoàng Long... Khả năng lũ sông Hồng lớn sẽ có phân lũ sông Đáy, tình hình xảy ra sẽ hết sức phức tạp. Vấn đề là hệ thống công trình phân thoát lũ cần được rà soát lại và nâng cấp sao cho đáp ứng phân lũ nhanh với số lượng lớn khi tình huống xấu xảy ra. Do vậy đê tả Đáy, đập Đáy, lòng hồ Vân Cốc, lòng dẫn sông Đáy cần được đầu tư nghiên cứu và tu bổ nâng cấp để đáp ứng các yêu cầu nêu trên. Mặt khác, các khu chậm lũ phải được phát triển như thế nào để vừa có thể chậm lũ, vừa phù hợp với yêu cầu hiện tại và tương lai của dân cư trong các khu vực này.

Dòng chảy bề mặt bị ô nhiễm với mức độ ngày càng cao nhất là những nơi nằm ở trục tiêu của các đô thị (Hà Nội, Phủ Lý, Ninh Bình...), các cơ sở sản xuất công nghiệp. Sắp tới, chuỗi đô thị dọc bờ hữu sông Tích cũng gây ra ô nhiễm nguồn nước cho con sông này.

2- Đề xuất các giải pháp bảo vệ, sử dụng và phát triển nguồn nước ở lưu vực sông Đáy.

Đề ra được quy hoạch bảo vệ và phát triển nguồn nước của lưu vực sông Đáy phải trên cơ sở thực trạng và quy hoạch phát triển của các ngành kinh tế. Cần có phương án phát triển nguồn nước khung đáp ứng yêu cầu hiện tại và tương lai trong sự kết hợp hài hoà giữa các khu thuỷ lợi, hệ thống và các sông trục chính của lưu vực đối với các ngành kinh tế, đảm bảo sự phát triển bền vững tài nguyên nước.

Tổng hợp được nhu cầu về nước của nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông, công nghiệp, đô thị, du lịch, dịch vụ hiện tại và tương lai, làm cơ sở cho việc đề ra quy hoạch bảo vệ và phát triển nguồn nước lưu vực sông Đáy.

Đánh giá những biến động về tự nhiên và xã hội, khả năng thoát lũ, tiêu úng và sự phát triển của sông Đáy trong tổng thể chung của lưu vực sông Hồng. Nêu lên các phương án phát triển nguồn nước của lưu vực phù hợp cho cả hiện tại và tương lai những năm sau 2010.

Quy hoạch bảo vệ và phát triển nguồn nước theo các nhiệm vụ:

Quy hoạch phòng chống lũ lụt trước mắt và lâu dài, đáp ứng hai yêu cầu không phân lũ và phân lũ sông Hồng vào sông Đáy.

Quy hoạch tiêu úng đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển mạnh mẽ đô thị, công nghiệp, nông thôn, từng hệ thống và toàn lưu vực. Kết hợp chặt chẽ tiêu úng và phòng chống lũ.

Cấp nước cho nông nghiệp và các ngành kinh tế theo yêu cầu trước mắt và những năm sau 2010.

Đánh giá thực trạng và dự báo về khối lượng và chất lượng nước trên trục chính, nêu phương án bảo vệ của khung sông Đáy.

Xây dựng hệ thống trạm quan trắc số lượng và chất lượng nước tại các vị trí quan trọng. Đồng thời thực hiện việc xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn mới cho phép thải nước vào các kênh cũng như sông trục theo tiêu chuẩn và quy định đảm bảo việc dùng nước cho nông nghiệp và dân sinh từ  các sông trục đó./.

 Tháng 5 năm 2006

 

 

 

 

 
CÁC TIN KHÁC
  MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ, KHAI THÁC THUỶ LỢI THUỘC LƯU VỰC SÔNG ĐÁY TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
  NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC SÔNG ĐÁY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY
  BÁO CÁO VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHAI THÁC THỦY LỢI TỈNH NAM ĐỊNH
  MỤC LỤC KỶ YẾU HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2005 CỦA BAN QUẢN LÝ QUY HOẠCH LƯU VỰC SÔNG HỒNG - THÁI BÌNH
  DANH MỤC CÁC BÀI THAM LUẬN TRONG HỘI THẢO SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2005 BAN QUẢN LÝ QUY HOẠCH SÔNG HỒNG - SÔNG THÁI BÌNH

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn