I   Trang chủ   I  Thảo luận   I  Thông tin phản hồi   I  English
 
Giới thiệu
Đặc điểm lưu vực
Nguồn nước
Nông nghiệp
Công trình thuỷ lợi
Quản lý khai thác
Phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai
Thuỷ điện
Thuỷ sản
Giao thông
Xây dựng đô thị hạ tầng cơ sở
Quy hoạch
Khoa học công nghệ
Hợp tác quốc tế
Các hoạt động của văn phòng Ban
Bản tin
Văn bản pháp quy


Số lượt truy cập





_Weblink
 
 
 
TÌNH HÌNH SUY GIẢM CHẤT LƯỢNG VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG CẦU
 

Lưu vực Sông Cầu nằm trong phạm vi tọa độ địa lý: 21o07 - 22o18 vĩ bắc, 105o28 - 106o08 kinh đông, có diện tích lưu vực 6.030 km2, bao gồm toàn bộ hay một phần lãnh thổ của các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc và Hà Nội.Sông Cầu là sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình. Sông Cầu có 2 phụ lưu lớn là sông Công (dài 96 km) và sông Cà Lồ (dài 89km).Từ bao đời nay nhân dân ta đặc biệt là nhân dân 6 tỉnh trong lưu vực đã được hưởng nhiều nguồn lợi trực tiếp từ sông Cầu. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế, chúng ta đã khai thác một cách quá mức trên toàn bộ lưu vực tạo nên những tác động hết sức sâu sắc đến nguồn nước, cảnh quan lưu vực sông Cầu.

Khí hậu lưu vực sông Cầu có đặc điểm cơ bản của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm, có mùa đông khá lạnh, mùa hè nóng, mưa nhiều.

Nhiệt độ phân hóa mạnh mẽ trong toàn lưu vực. Vùng thấp (dưới 100m) nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 22,5 - 23oC, vùng có độ cao đến 500m, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 200oC, vùng cao trên 1.000m, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 17,5 - 18oC.

Nhiệt độ cao nhất trong lưu vực đạt đến 40oC (tại Hiệp Hòa - Bắc Giang), còn nhiệt độ thấp nhất là - 1oC (tại Bắc Kạn).

Lưu vực sông Cầu là khu vực có lượng mưa khá lớn, lượng mưa hàng năm vào khoảng từ 1.500 - 2.700mm. Trong lưu vực tồn tại một trung tâm mưa lớn đó là Tam Đảo. ở đây lượng mưa hàng năm có thể đạt đến 3.000mm. Vùng mưa này kéo dài sang phía Đông qua thành phố Thái Nguyên, với lượng mưa năm vượt quá 2.000 mm.

Tổng lượng dòng chảy trung bình năm của lưu vực sông Cầu như sau:

- Trên sông Cầu (đến cửa sông): 4,50 km3/năm, trong đó đóng góp của sông Công là 0,8992 km3/năm (19,8%), sông Cà Lồ là 0,8800 km3/năm (19,5%).

- Mức bảo đảm nước trung bình năm của toàn lưu vực sông Cầu vào khoảng 116.103m3/km2 và 2.250m3/người. Giá trị này thấp hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình của toàn lãnh thổ Việt Nam (2.500.103m3/km2 và 10.800m3/người).

Mùa mưa trên lưu vực sông Cầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng dòng chảy mùa khô chỉ chiếm khoảng 15 - 20% tổng lượng dòng chảy năm. Tháng 2 là tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất.

Trong những năm gần đây do rừng đầu nguồn bị chặt phá nên dòng chảy sông suối đầu nguồn có xu thế cạn kiệt.

Theo thống kê, thời kỳ 1960 - 1991 trên lưu vực xuất hiện 22 trận lũ lớn, trong đó có 11 trận đặc biệt lớn (Tại Phả Lại Hmax > 7m). Những năm gần đây lũ quét đã xẩy ra ngày càng nhiều hơn ở các sông suối nhỏ thượng nguồn sông Cầu, sông Công. Lũ quét đã gây ra những tổn thất to lớn về người và tài sản của nhân dân. Một số trận lũ quét điển hình trên lưu vực sông Cầu như: Trận lũ ở đầu nguồn sông Công (1963), trên sông Ràng (1973), sông Công (1978), tại Bắc Kạn năm 2000 và năm 2001 ở Thái Nguyên và Bắc Kạn.

Nhu cầu dùng nước trong lưu vực sông Cầu

* Nước cho sản xuất nông nghiệp tại Thái Nguyên (tưới cho 11.000 ha) khoảng 151.106m3/năm; cho Bắc Giang, Bắc Ninh (tưới cho 20.000ha), khoảng 200.106m3/năm.

* Nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên khoảng 30.106m3/năm

* Nước cho sản xuất công nghiệp cho Khu gang thép Thái Nguyên là 20.106 m3/năm, Khu công nghiệp sông Công là 10.106 m3/năm.

Tuy tổng lượng nước hàng năm của sông Cầu khá lớn (so với nhu cầu), nhưng do dòng chảy phân bố không đều trong năm, nên trong mùa cạn đã xẩy ra thiếu nước nghiêm trọng ở một số nơi, nhất là vào các tháng 1 - 3. Theo tính toán sơ bộ, các tháng này thiếu khoảng 36.106m3 để cung cấp cho sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ở Thái Nguyên, Bắc Ninh và Bắc Giang.

Trong tương lai nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt và sản xuất gia tăng nhanh chóng, tình trạng thiếu nước chắc chắn sẽ trầm trọng hơn nếu không có các biện pháp khai thác và bảo vệ nguồn nước sông Cầu một cách hữu hiệu.

TÌNH HÌNH SUY GIẢM CHẤT LƯỢNG VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG CẦU

Hiện trạng rừng

Số liệu thống kê của hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên cho thấy giai đoạn 1986-1993, sản lượng khai thác lâm nghiệp bình quân mỗi năm là 65 ngàn m3 gỗ tròn, 723 ngàn tấn củi, và 7,8 ngàn tấn nguyên liệu cho sản xuất giấy. Rừng tự nhiên trong khu vực giảm khoảng 1,4 triệu héc-ta. Độ che phủ của rừng ở Thái Nguyên và Bắc Kạn giảm chỉ còn 32% kể cả rừng trồng mới.

Mặc dù trong những năm gần đây chủ trương giao đất giao rừng cho nhân dân quản lý đã thu được nhiều kết quả tốt, song diện tích đất trống đồi trọc vẫn còn nhiều, tại Bắc Kạn và Thái Nguyên còn khoảng 260.000 ha. Đặc biệt rừng đầu nguồn sông Cầu, sông Công có hơn 34.000 ha trảng cỏ bụi cây và hơn 200.000 ha rừng tre nứa mọc thưa thớt, rải rác.

Chất lượng rừng trong lưu vực sông Cầu bị xuống cấp nghiêm trọng, nghèo kiệt, độ che phủ thấp không còn khả năng ngăn lũ vào mùa mưa và giữ ẩm cho đất vào mùa khô, dẫn đến tình trạng suy thoái đất, lũ lụt về mùa mưa, hạn hán về mùa khô, biến đổi dòng chảy, xói mòn và bồi lấp lòng sông...

Chất lượng nước sông Cầu

a) Nguồn gây ô nhiễm nước

Chất thải từ sản xuất công nghiệp

Các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên lưu vực sông Cầu là nguyên nhân làm giảm sút chất lượng và ô nhiễm nguồn nước sông Cầu. Theo thống kê chưa đầy đủ trên địa bàn khu vực có gần 400 doanh nghiệp Nhà nước, Trung ương, địa phương và hàng ngàn cơ sở tư nhân đang hoạt động, gồm hầu hết các loại hình công nghiệp, thủ công nghiệp, làng nghề; và trong các lĩnh vực như sản xuất năng lượng, khai thác chế biến khoáng sản, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng v.v..

Công nghiệp khai khoáng và chế biến khoáng sản chủ yếu tập trung ở Bắc Kạn và Thái Nguyên. Chất thải rắn từ các mỏ than vào khoảng 1,5 triệu tấn/năm, từ các mỏ sắt - 2,5 triệu tấn/năm, tại các mỏ thiếc - 800.000 tấn/năm. Nước thải rửa quặng chứa nhiều chất độc hại và hàm lượng chất lơ lửng cao (đạt đến 400 mg/l), theo mưa hoặc thải thực tiếp vào sông Cầu.

Hàng năm Nhà máy luyện cốc thải vào sông Cầu khoảng 1,3 triệu m3 nước thải với nhiều chất ô nhiễm, trong đó hàm lượng Phenol và xia-nua vượt quá giới hạn cho phép hàng trăm lần.

Nước thải Nhà máy luyện gang có hàm lượng Pb, Mn cao gấp hàng nghìn lần tiêu chuẩn cho phép.

Nước thải Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ có màu đen, hôi thối chứa nhiều chất độc hại như xút, Cl-, lignin... Hàm lượng BOD và COD trong nước thải cao vượt nồng độ cho phép hơn 10 lần, hàm lượng Phenol cao gấp 10 - 15 lần tiêu chuẩn cho phép. Nước thải này không được xử lý và đổ trực tiếp ra sông Cầu gây ô nhiễm nghiêm trọng.

Chất thải từ các làng nghề

Trong lưu vực sông Cầu theo thống kê chưa đầy đủ có khoảng 200 làng nghề. Các làng nghề này một mặt góp phần gia tăng sản phẩm cho xã hội và tạo công ăn việc làm, nhưng mặt khác lại hàng ngày, hàng giờ thải các chất độc hại làm suy thoái và ô nhiễm nước sông Cầu ngày càng trầm trọng. Ví dụ, trên địa bàn xã Phong Khê, huyện Yên Phong và khu sản xuất giấy Phú Lâm, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, hai khu vực này có đến 50 xí nghiệp và 70 phân xưởng sản xuất, tạo ra mỗi ngày khoảng trên 3.000 m3 nước thải chứa các hóa chất độc hại như xút, chất tẩy rửa, phèn kép, nhựa thông, Javen, lignin, phẩm mầu...

Chất thải rắn và rác thải bệnh viện

Cùng với công nghiệp hóa và đô thị hóa lưu vực sông Cầu, khối lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng gia tăng, bao gồm rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp và rác thải bệnh viện. Hầu hết các rác thải trên đều không được xử lý và đổ bừa bãi ra sông, hồ, ao trong khu vực. Theo số liệu thống kê ở lưu vực sông Cầu ước tính có khoảng 1.500 tấn rác thải trong 1 ngày. Đây là nguồn ô nhiễm tiềm tàng cho nước mặt và nước ngầm.

Các tỉnh sông Cầu có 35 bệnh viện, có các bệnh viện lớn như Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Ninh. Các công trình xử lý nước thải của các bệnh viện không hoạt động. Toàn bộ rác thải của các bệnh viện nói trên chưa được phân loại từ nguồn, rác thải mang mầm bệnh độc hại được đổ chung với rác thải sinh hoạt, đó là nguồn gây ô nhiễm nguy hại cho sức khoẻ người dân sinh sống ở đây.

b) Chất lượng nước sông Cầu

Theo kết quả điều tra khảo sát của các Sở KHCN&MT 6 tỉnh lưu vực sông Cầu và các cơ quan nghiên cứu môi trường như Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo và Tư vấn Môi trường (Viện Cơ học), Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Không khí và Nước (Viện Khí tượng Thủy văn)... cho thấy chất lượng nước sông Cầu đã bị suy giảm, nhiều nơi nhiều lúc đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề.

Đoạn thượng lưu từ thượng nguồn sông đến Thác Bưởi, nước sông vẫn còn giữ được tính tự nhiên vốn có do chảy qua vùng dân cư thưa thớt và công nghiệp chưa phát triển. Chất lượng nước của đoạn sông này còn khá tốt. Các chỉ tiêu chất lượng nước đều bảo đảm giới hạn cho phép đối với nguồn nước mặt loại A (TCVN 5942 -1995).

Đoạn trung lưu, từ ngã ba sông Đu gặp sông Cầu đến Phù Lôi (Sóc Sơn), đây là khu vực có mức độ phát triển kinh tế tương đối cao. Đoạn sông này phải tiếp nhận một lượng lớn nước thải (khoảng 300 triệu m3/ năm) từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Chất lượng nước của đoạn này đã suy giảm một cách nghiêm trọng. Hầu hết các chỉ tiêu chất lượng nước đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nguồn loại A (TCVN 5942 -1995). Nhiều nơi, nhiều chỉ tiêu không đạt nguồn loại B, nhất là vào những tháng mùa kiệt, khi nước ở thượng nguồn ít.

Đoạn hạ lưu tính từ ngã ba sông Công gặp sông Cầu đến cửa sông Cầu gặp sông Thái Bình (đoạn chảy qua hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang). Nước sông ở đây đã bị ô nhiễm và nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động sản xuất của các làng nghề hai bên bờ sông. Hàm lượng BOD, COD so với tiêu chuẩn cho phép đều cao hơn hàng chục lần

Điều đặc biệt đáng chú ý là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và hàm lượng coliform ở một số điểm trong đoạn hạ lưu khá cao. Hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Lượng thuốc này còn lưu lại trong đất, khi mưa nước cuốn trôi đưa vào sông gây ô nhiễm nước.

Hàm lượng coliform của tất cả điểm đều vượt, thậm chí gấp hai ba lần tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn loại B, đây là điều đáng báo động vì nhân dân sử dụng nước sông Cầu cho mục đích sinh hoạt.

NGUYÊN NHÂN SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC SÔNG CẦU

Suy giảm chất lượng nước và suy thoái môi trường lưu vực sông Cầu là do các nguyên nhân sau:

* Rừng đầu nguồn bị khai thác quá mức.

* Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp một cách nhanh chóng, không quy hoạch. Hầu hết các chất thải công nghiệp không được xử lý và đổ trực tiếp ra hệ thống sông.

* Khai thác khoáng sản bừa bãi, không có quy hoạch.

* Tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh, mật độ dân số cao.

* Chưa có khung pháp luật về khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên.

* Trình độ và ý thức của cộng đồng chưa cao trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

KIẾN NGHỊ

Dựa trên các kết quả đánh giá hiện trạng môi trường, các tác động đến môi trường lưu vực sông Cầu và các nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường, chúng tôi có một số kiến nghị sau đây:

* Nhiệm vụ bảo vệ con sông là rất to lớn, thuộc trách nhiệm của cả cộng đồng do vậy phải có nỗ lực của mỗi ngành, mỗi địa phương, đặc biệt là 6 tỉnh trong lưu vực sông Cầu trên cơ sở mục đích và phương hướng hành động thống nhất. Nhanh chóng xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt Dự án Quy hoạch tổng thể bảo vệ và khai thác bền vững môi trường lưu vực sông Cầu.

* Xây dựng chương trình hành động bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên và môi trường của các địa phương và các ngành.

* Khẩn trương xây dựng cơ chế và ban hành các chính sách thích hợp để quản lý môi trường lưu vực sông Cầu.

* áp dụng các giải pháp tiên tiến về công nghệ, kinh tế trong sản xuất và xử lý nước thải nhằm hạn chế, giảm thiểu các tác động tới môi trường.

[NGUYỄN HỒNG KHÁNH, ĐỖ HOÀI DƯƠNG, TẠ ĐĂNG TOÀN]

 
CÁC TIN KHÁC
  TÌNH HÌNH Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NUỚC SÔNG HỒNG
  CHẤT LƯỢNG NƯỚC MẶT
  LƯU VỰC SÔNG NHUỆ VÀ ĐÁY BỊ Ô NHIỄM NGHIÊM TRỌNG

 

 
TIN VẮN
 

HyperLink
HyperLink
HyperLink

_ Tools
  Acrobat pdf
  Mapinfo pro


 
Văn phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch Thuỷ Lợi
162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn