Ngày 08 tháng 9 năm 2009, tại Thái Nguyên, Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) phối hợp với Mạng lưới Đối tác vì Nước Toàn cầu Khu vực Đông Nam Á (GWP-SEA) và Mạng lưới Đối tác vì Nước Việt Nam (VNWP) đã tổ chức hội thảo “Đối thoại Quản lý lưu vực sông ở Việt Nam” với nội dung chính quản lý tổng hợp và hiệu quả lưu vực sông (LVS), trong đó ưu tiên quản lý, bảo vệ, phát triển, khai thác và sử dụng tài nguyên nước (TNN). Tham dự hội thảo có hơn 50 đại biểu, đại diên cho các cơ quan chuyên môn của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nông nghiệp và PTNT, các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, cùng các tổ chức lưu vực sông Cầu, sông Hồng – Thái Bình, Vũ Gia – Thu Bồn và Đồng Nai, các Viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ trong nước, quốc tế và phóng viên các cơ quan báo chí. Hội nghị là cơ hội để các tổ chức xã hội dân sự và khoa học cùng thảo luận, đối thoại với các bộ ngành về những bài học và kinh nghiệm quản lý LVS ở Việt Nam, đồng thời đưa ra các khuyến nghị chính sách về tăng cường thể chế và năng lực cho các tổ chức LVS nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước
Nhiệm vụ quản lý lưu vực sông ở Việt Nam đã được quy định theo Luật Tài nguyên nước năm 1998. Việt Nam hiện có 13 lưu vực sông lớn và đã có 11 tổ chức lưu vực sông thuộc 2 hệ thống quản lý chuyên ngành. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thành lập và đang quản lý 8 Ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông, cụ thể Ban QLQHLV sông Hồng – Thái Bình, sông Cầu, sông Nhuệ -Đáy, sông Cả, sông Vũ Gia – Thu Bồn, sông Đồng Nai, sông Serepok và sông Cửu Long.
Kể từ năm 2002, Chính phủ đã giao chức năng quản lý tài nguyên nước cho Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bộ này đã tham mưu Chính phủ thành lập 3 Uỷ ban Bảo vệ Môi trường lưu vực sông là UB BVMTLV sông Cầu, sông Đồng Nai và sông Nhuệ - Đáy.
Đến năm 2008, Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường thống nhất quản lý tài nguyên nước và lưu vực sông thông qua các tổ chức Uỷ ban lưu vực sông sẽ được thành lập trong tương lai. Nhiệm vụ này đã được quy định bởi Nghị định 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý lưu vực sông.
Hội thảo cho rằng các thể chế như Ban Quản lý Quy hoạch LVS hay Uỷ ban Bảo vệ Môi trường LVS đã có những đóng góp nhất định cho công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên nước nhưng mới chỉ ở góc độ tư vấn kỹ thuật, tham mưu chứ chưa đủ mạnh như là tổ chức có quyền lực pháp lý rõ ràng. Những hạn chế này bộc lộ ở nhân lực kiêm nhiệm, tài chính hạn hẹp, thiếu lực lượng chuyên trách cùng sự thiếu rõ ràng trong vai trò tham gia và ra quyết định xử lý các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước và lưu vực sông
Trong những năm gần đây, sự phát triển thuỷ điện ồ ạt, mở dòng mới để chuyển nước, khai thác khoáng sản và các tác động khác của con người gây ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước, thoái hoá lòng sông, tác động tiêu cực đến dòng chảy môi trường, nguồn nước sinh hoạt và đời sống, sinh kế của dân cư đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo và tình trạng của tài nguyên nước và lưu vực sông, đã làm phức tạp thêm yêu cầu quản lý. Điển hình cho những thách thức quản lý này là vụ xả thải của Công ty Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải; xây dựng thuỷ điện A Vương và Đắk Mi 4 (Quảng Nam) khiến nguy cơ thiếu nước ở Đà Nẵng (vùng hạ lưu sông Vu Gia) được dự báo là đặc biệt nghiêm trọng; hay tình trạng ô nhiễm hệ thống sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai ngày càng trở nên nguy cấp.
Hội thảo đánh giá cao việc Chính phủ ban hành Nghị định 120/2008/NĐ-CP như một giải pháp chiến lược nhằm quản lý tổng hợp và toàn diện tài nguyên nước vùng lưu vực sông với các nhận thức mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế xã hội của đất nước và khu vực. Các đại biểu cho rằng sự đồng thuận giữa các bộ, ngành và địa phương được xem là điều kiện tiên quyết để quản lý, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên nước trên lưu vực sông. Vì vậy, Chính phủ cần quy định một cách rõ ràng chức năng và nhiệm vụ Uỷ ban LVS để Ủy ban này có quyền hạn và quyền lực thực sự, đủ mạnh để thực hiện chức năng điều phối LVS hiệu quả. Cần phải xác định rõ vị trí, vai trò ra quyết định của Uỷ ban LVS, đảm bảo tính khách quan và chuyên nghiệp trong mối quan hệ với các ngành và chính quyền địa phương. Và sự tham gia của các bên liên quan khác trong quản lý LVS như cộng đồng địa phương, các tổ chức phi chính phủ cũng được khuyến cáo
Hội thảo cũng thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm quản lý LVS của Pháp với hình thức phân cấp tiểu lưu vực và của Nhật Bản về huy động các bên tham gia, kinh nghiệm đối thoại về quản lý TNN của Uỷ ban Sông Mê Công Việt Nam, đồng thời giới thiệu sáng kiến Chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng nghèo vùng rừng đầu nguồn. Hội thảo thống nhất sẽ tổng hợp và trình các khuyến nghị chính sách về quản lý LVS cho các cơ quan chức năng của nhà nước, góp phần thúc đẩy việc hoàn thiện các thể chế Uỷ ban LVS, tiến tới hoạt động hiệu quả hơn trong tương lai.
Sông Nhuệ và sông Đáy đi qua 6 tỉnh gồm: Hà Nội, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình. Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường Phạm Khôi Nguyên, nước sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội đã ô nhiễm nặng nề. Hàm lượng ôxy sinh hóa (BOD), amoni (NH4) vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Tại nhiều xã của huyện Thanh Trì - nơi sông Tô Lịch và Kim Ngưu hợp lưu đổ vào sông Nhuệ - bị ô nhiễm đến mức cực đại, vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với loại nước loại B hàng chục lần.
Hệ quả của nguồn nước ô nhiễm là người dân sống tại khu vực này thường mắc các bệnh về mắt, đường ruột, ngoài da. Theo kết quả điều tra về bệnh tật do nguồn nước sông Nhuệ của UBND tỉnh Hà Nam, có tới 21% trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây bị mắc bệnh tiêu chảy. Tại 2 xã Hoàng Tây, Nhật Tân (huyện Kim Bảng), có tới 86% trẻ em mắc bệnh giun đũa, 76% mắc bệnh giun tóc và 9% mắc bệnh giun móc. Tỷ lệ mắc các bệnh về mắt, ngoài da và phụ khoa rất cao.
Sông Đáy cũng bị ô nhiễm nặng dù mức độ ít nghiêm trọng hơn. Theo UBND tỉnh Nam Định, cả mùa hè và mùa đông, chất lượng nước sông Đáy toàn lưu vực trên địa bàn đều bị ô nhiễm chất hữu cơ và vi sinh. Nước sông đã xuất hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và dầu mỡ. Hiện trạng này không những ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái tại khu vực.
Thủ phạm chính gây nên hiện tượng ô nhiễm là nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Hiện có tới 700 nguồn thải công nghiệp, sản xuất thủ công nghiệp làng nghề, trong đó có nhiều nguồn nước chứa các chất nguy hại và khó phân hủy như kim loại nặng, dầu mỡ, dung môi hữu cơ đổ vào hai sông. Bên cạnh đó là chất thải của hàng trăm bệnh viện, chất thải sinh hoạt của trên 3 triệu dân. Riêng tại Hà Nội mỗi ngày lượng nước thải đổ ra sông, hồ xấp xỉ 800.000 m3/ngày đêm. Còn tại Hà Tây - địa phương có nhiều làng nghề nổi tiếng - nhưng hầu như chưa được quy hoạch tổng thể và xây dựng hệ thống xử lý nước thải.
Trước thực trạng trên, Bộ Tài nguyên - Môi trường cùng UBND các tỉnh, thành phố ký một bản cam kết bảo vệ môi trường lưu vực hai sông vào ngày hôm qua. Trong đó thống nhất nhận định tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi trong lưu vực đã lên mức báo động. Các mục tiêu được cam kết thực hiện là: từ mùa khô năm nay, bằng giải pháp điều tiết nước hợp lý nhằm giảm nồng độ ô nhiễm nước sông; đến năm 2010 giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông Nhuệ và Đáy (đạt chất lượng loại A).
Văn
phòng ban Quản lý Quy hoạch lưu vực sông Hồng-sông Thái Bình * Viện Quy hoạch
Thuỷ Lợi 162A Trần Quang Khải, Hà nội, Việt
Nam\Điện thoại: 84-4 8267020 Fax: 84-4 8252807 Email:iwrp.hanoi@hn.vnn.vn